“Sợi nhớ, sợi thương” bên dòng sông Hậu - An Giang
Tiếng khung cửi lách cách hòa cùng nhịp sóng vỗ bờ không chỉ dệt nên những tấm vải mà còn dệt nên bản sắc văn hóa và niềm tự hào của bao thế hệ.

Du khách nước ngoài trải nghiệm nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Chăm.
Sáng sớm, khi sương còn bảng lảng trên mặt sông, chúng tôi men theo con đường nhỏ bước vào làng. Những mái nhà nép mình sau hàng cây, yên ắng. Từ đâu đó, tiếng khung cửi vang lên đều đặn, khiến bước chân người lữ khách như chậm lại. Càng đi sâu vào làng, âm thanh ấy càng rõ, vang lên từ những căn nhà ven lối đi. Không biển hiệu hay lời mời gọi, nghề dệt hiện diện tự nhiên trong sinh hoạt thường ngày của người dân nơi đây. Bên khung cửi, những đôi tay thoăn thoắt đưa thoi, từng sợi chỉ đan xen tạo nên những gam màu hài hòa. Nhiều người quen nghĩ thổ cẩm là câu chuyện của núi rừng Tây Nguyên. Nhưng ở miền Tây sông nước, người Chăm Nam Bộ đã tạo nên một thế giới thổ cẩm rất riêng, giản dị, mềm mại và gần gũi với đời sống thường nhật.
Theo đồng chí So Ro Les, Phó chủ tịch HĐND xã Châu Phong, người Chăm đến An Giang từ khoảng thế kỷ 18, mang theo nghề dệt như một phần căn cước văn hóa. Trên vùng đất mới, họ điều chỉnh khung cửi, thay đổi hoa văn cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhịp sinh hoạt. Những họa tiết sóng nước, mây trời, hoa lá dần xuất hiện trên tấm vải, phản chiếu sự gắn bó giữa con người với dòng sông Hậu.
Ấp Phũm Xoài được xem là cái nôi của nghề dệt thổ cẩm xã Châu Phong. Ở đây, dệt không phải là nghề phụ, mà là mạch ngầm nuôi dưỡng ký ức cộng đồng. Để hoàn thành một tấm vải, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, từ chuẩn bị sợi, mắc khung, xỏ go đến từng nhịp đưa thoi, đòi hỏi sự chính xác và kiên nhẫn. Với gia đình ông Mo Ha Mad, khung dệt đã gắn bó suốt 4 thế hệ. Ông cho rằng giá trị của thổ cẩm không chỉ nằm ở kỹ thuật mà ở linh hồn ẩn trong từng hoa văn. Không cần chữ viết, mỗi tấm vải tự nó đã là một bản ghi chép về đời sống, nơi thiên nhiên và con người hòa quyện qua sợi chỉ.
Nghề dệt còn gắn với chuẩn mực đạo đức của người Chăm, đặc biệt đối với phụ nữ. Trước khi về nhà chồng, người con gái phải tự tay dệt xong một chiếc khăn. Trong lễ cưới, cô dâu khoác lên mình chính tấm khăn ấy như mang theo sự chăm chỉ, khéo léo và phẩm hạnh mà gia đình truyền dạy. Theo ông Mo Ha Mad, đó là cách cộng đồng gửi gắm những giá trị sống cho thế hệ sau.
Trong đời sống thường ngày và sinh hoạt tín ngưỡng, thổ cẩm hiện diện như một chuẩn mực văn hóa. Trang phục kín đáo, chỉn chu thể hiện sự tôn trọng với cộng đồng và đấng thiêng liêng khi bước vào thánh đường.
Đã có thời, bờ sông Hậu rộn ràng bởi hàng trăm khung dệt. Thập niên 1960, ghe thuyền tấp nập cập bến mua khăn, mua xà rông, mang thổ cẩm Châu Phong đi khắp nơi, sang cả Campuchia. Sau năm 1975, nghề dệt được tổ chức lại trong các tổ hợp tác, sản phẩm chủ yếu phục vụ bộ đội. Con sông khi ấy không chỉ chở hàng hóa mà còn chở theo niềm tự hào của một cộng đồng.
Khi dệt công nghiệp phát triển, nghề truyền thống đứng trước nhiều thách thức. Nhưng thổ cẩm Châu Phong không đứng yên. Từ những tấm khăn quen thuộc, người trẻ trong làng sáng tạo thêm túi xách, phụ kiện, vật trang trí, đưa thổ cẩm bước ra đời sống hiện đại. Bạn Ro Phi A, một người trẻ gắn bó với nghề, cho rằng đổi mới là cách duy nhất để thổ cẩm tiếp tục tồn tại. Hoa văn được cách điệu, màu sắc được phối lại, nhưng tinh thần và triết lý thẩm mỹ cốt lõi vẫn được giữ gìn.
Những chuyển động ấy mang lại tín hiệu tích cực. Nhiều người tìm đến Châu Phong không chỉ để mua sản phẩm, mà để trải nghiệm. Bạn Thị Na từ Đồng Nai bất ngờ trước những họa tiết gần gũi, còn chị Janine, du khách đến từ Đức, say mê quan sát từng nhịp tay đưa thoi và gọi đó là một trải nghiệm đáng nhớ.
Giữa những biến động của đời sống hiện đại, nghề dệt thổ cẩm Châu Phong vẫn tồn tại theo cách lặng lẽ nhưng bền bỉ. Trong từng tấm vải, từng sợi chỉ là ký ức được neo lại, là bản sắc được gìn giữ. Dòng sông Hậu vẫn chảy và bên dòng sông ấy, tiếng khung cửi vẫn đều đặn vang lên, nối quá khứ với hiện tại và đi tiếp cùng tương lai.
Bài và ảnh: Thúy An









