Non nước Việt Nam

Hoài Khao (Cao Bằng) - Bảo tàng của những ký ức đang sống

Cập nhật: 17/08/2026 10:36:47
Số lần đọc: 34
Nằm dưới chân Phja Oắc, trong không gian Phja Oắc - Phja Đén, Hoài Khao, xã Thành Công, tỉnh Cao Bằng là nơi sinh sống lâu đời của cộng đồng Dao Tiền. Đến đây, điều dễ nhận thấy là nhiều nét văn hóa vẫn còn trong chính đời sống hằng ngày của người dân.


Chuyện của người xưa vẫn hiện diện trong chiếc khăn trắng của người phụ nữ, những đường nét trên trang phục, tiếng hát, tiếng búa chạm bạc, tấm vải được tạo hoa văn bằng sáp ong rồi nhuộm chàm, trong những câu chuyện người già còn nhớ và kể lại cho con cháu.

Những ngôi nhà truyền thống, kho thóc, nghề thủ công, tín ngưỡng và tri thức về rừng cùng tồn tại trong một không gian sống.

Ông Hoàng Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND xã Thành Công cho biết: Những năm qua, Hoài Khao phát triển du lịch cộng đồng; các nhóm văn nghệ, thêu và in sáp ong, chạm bạc, đan lát, dược liệu, ẩm thực, hướng dẫn khách đã được hình thành.

Nền tảng ban đầu đã có. Câu hỏi bây giờ không chỉ là làm thế nào để có thêm khách, mà là phát triển thế nào để những giá trị làm nên Hoài Khao không nhạt đi, người dân có sinh kế tốt hơn và lớp trẻ vẫn muốn tiếp tục những gì các thế hệ trước trao lại.

Từ câu hỏi ấy, có thể nghĩ về Hoài Khao như một “bảo tàng sống”: văn hóa được gìn giữ ngay trong môi trường đã sinh ra nó, bởi chính những con người đang sống và thực hành văn hóa ấy.

Hoài Khao dưới chân Phja Oắc - nơi thiên nhiên và đời sống văn hóa Dao Tiền gắn bó qua nhiều thế hệ.

Những ký ức được mang theo

Chiếc khăn trắng là một nét dễ nhận ra trên trang phục của phụ nữ Dao Tiền. Cuốn “Bức tranh văn hóa các dân tộc Cao Bằng” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng tổ chức biên soạn, lưu lại một truyện kể: trong hành trình rời vùng đất cũ đi tìm nơi sinh sống mới, có những gia đình người Dao chưa mãn tang cha mẹ nên vẫn đội khăn trắng. Khi đến vùng đất mới, không còn điều kiện trở về chăm sóc phần mộ cha mẹ nơi cố hương, chiếc khăn tiếp tục được gìn giữ như một cách tưởng nhớ công sinh thành, dưỡng dục.

Giám đốc Báo và Phát thanh, truyền hình Cao Bằng Sầm Việt An, người nghiên cứu lịch sử, văn hóa Cao Bằng, cũng cho rằng chiếc khăn trắng của phụ nữ Dao Tiền mang ý nghĩa về đạo hiếu, nhắc nhớ công ơn cha mẹ.

Qua một vật dụng bình dị, quan niệm về gia đình, nguồn cội và đạo làm con được nhắc nhớ từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trên trang phục Dao Tiền còn có hình tượng long khuyển. Chị Bàn Thị Liên, Trưởng Ban công tác Mặt trận xóm Quang Thượng, xã Thành Công kể với chúng tôi câu chuyện được người dân truyền lại qua nhiều thế hệ về hình tượng long khuyển, gắn với Bàn Vương và ký ức về nguồn cội.

Theo đó, trong các cộng đồng người Dao còn lưu truyền những dị bản khác nhau về Bàn Vương. Vì vậy, những câu chuyện ấy trước hết nên được nhìn nhận như một phần của ký ức và đời sống văn hóa cộng đồng, không dùng một dị bản để giải thích toàn bộ lịch sử người Dao.

Ở Hoài Khao, những câu chuyện ấy vẫn được kể lại và để lại dấu vết trong trang phục, phong tục, tín ngưỡng. Nhìn một bộ trang phục Dao Tiền vì thế không chỉ thấy màu sắc, kỹ thuật hay vẻ đẹp của hoa văn; phía sau còn có những câu chuyện người trước truyền lại cho người sau.

Ý thức về tổ tiên, Bàn Vương còn hiện diện trong đời sống tín ngưỡng và nhiều nghi lễ truyền thống của người Dao Tiền ở Cao Bằng, trong đó có lễ cấp sắc. Riêng việc thực hành và những nét riêng của nghi lễ này tại Hoài Khao cần tiếp tục tìm hiểu từ chính cộng đồng.

Chiếc khăn trắng của phụ nữ Dao Tiền gắn với câu chuyện về đạo hiếu được cộng đồng lưu truyền qua nhiều đời.

Vài khao - câu chuyện từ tên đất

Chị Bàn Thị Liên kể với chúng tôi, Hoài Khao vốn được người dân gọi là Vài Khao, nghĩa là “trâu trắng”, gắn với câu chuyện được truyền qua nhiều thế hệ về một con trâu trắng do bà tiên ban tặng.

Cách lý giải này không chỉ còn trong lời kể ở Hoài Khao. Một số tư liệu về vùng đất cũng ghi nhận Vài Khao là tên gọi gắn với nghĩa “trâu trắng” và truyền thuyết về con trâu trắng.

Truyền thuyết không phải là biên niên sử. Nhưng nó là một phần ký ức văn hóa của cộng đồng. Hình tượng trâu trắng vì thế đáng được ghi nhận cùng với tên đất, lời kể của người dân và những dấu tích còn được lưu giữ ở Hoài Khao.

Chị Liên còn kể: “Trong ký ức được truyền lại qua nhiều thế hệ, người Dao Tiền Hoài Khao kể rằng tổ tiên mình có nguồn gốc từ vùng Phúc Kiến, Trung Quốc, từng theo đường biển trong hành trình di cư trước khi tìm đến vùng đất này”.

Đây là lời kể được truyền trong cộng đồng, chưa thể coi là một kết luận lịch sử. Phúc Kiến cũng xuất hiện trong một số tư liệu cổ khi đề cập đến sự phân tán của người Dao. Sự gặp nhau giữa lời kể và tư liệu là một đầu mối đáng tìm hiểu, nhưng chưa đủ căn cứ để xác định tổ tiên người Dao Tiền Hoài Khao đã trực tiếp từ Phúc Kiến đến vùng đất này.

Còn nhiều việc có thể tiếp tục nghiên cứu ở Hoài Khao: tìm sách cổ, gia phả nếu còn; ghi lại lời kể của người cao tuổi; đối chiếu những địa danh cũ và ký ức của các gia đình. Bởi điều chưa biết cần tiếp tục được khảo cứu, không nên lấp đầy bằng suy đoán.

Rừng cũng là một phần của di sản

Người Hoài Khao bảo vệ nơi ong khoái làm tổ và chỉ thu sáp sau khi đàn ong rời đi.

Nếu những câu chuyện về tổ tiên cho biết một cộng đồng nhớ về nguồn cội như thế nào, thì cách người dân Hoài Khao ứng xử với rừng lại cho thấy mối quan hệ của họ với vùng đất đang sống.

Ở Hoài Khao có những vách đá nơi ong khoái tìm về làm tổ. Người dân cùng bảo vệ những khu vực này, không khai thác mật tùy tiện; khi đàn ong rời đi mới thu phần sáp còn lại. Báo Cao Bằng ghi nhận hai điểm ong khoái về làm tổ là Chán Vềnh và Tà Lạt; việc bảo vệ hang ong được cộng đồng cùng thực hiện.

Trước khi vào rừng lấy sáp, người dân thực hiện nghi lễ cúng thần ong, thần rừng. Việc thu sáp cũng được phân công trong cộng đồng: người chuẩn bị lễ, người lấy sáp, lấy củi, nấu sáp…

Không thể nói chỉ nhờ tín ngưỡng mà rừng được giữ. Nhưng niềm tin đối với thần rừng, thần ong cùng những quy ước và cách ứng xử được duy trì trong cộng đồng đã góp phần tạo nên một cách khai thác có chừng mực: giữ nơi ong sinh sống, chờ ong rời tổ mới lấy sáp và mong đàn ong năm sau tiếp tục trở về. Từ những vách đá ấy, một hành trình khác bắt đầu.

Sáp ong được mang về bản, làm sạch, chế biến. Người phụ nữ dùng sáp tạo hoa văn trên tấm vải trắng, sau đó nhuộm chàm để làm nên một phần trang phục truyền thống. Từ cánh rừng đến tấm áo là cả một vòng đời của di sản. Sợi dây nối rừng Phja Oắc với bộ trang phục Dao Tiền vì thế rất cụ thể. Muốn nghề còn, không thể chỉ giữ sản phẩm cuối cùng mà còn phải quan tâm đến môi trường tự nhiên, nguồn nguyên liệu và tri thức đã tạo ra sản phẩm ấy. Ở Hoài Khao, giữ một tấm áo, phải bắt đầu từ giữ một cánh rừng.

Tạo hoa văn bằng sáp ong trước khi nhuộm chàm - kỹ thuật được phụ nữ Dao Tiền Hoài Khao trao truyền qua các thế hệ.

Một ngôi làng, một bảo tàng sống

Nhìn từ những gì đang hiện hữu, xây dựng Hoài Khao theo hướng “bảo tàng sống” không nhất thiết phải bắt đầu bằng một công trình mới. Không gian cần gìn giữ đã ở đây. Đó là những ngôi nhà, kho thóc, trang phục, đồ nghề; là rừng, cảnh quan và những vách đá nơi ong khoái làm tổ. Quan trọng hơn, ở đây vẫn còn những người biết hát, biết làm nghề, biết kể chuyện, hiểu phong tục, cây thuốc và những tri thức của cộng đồng. Có một điều cần xác định rõ: con người không phải “hiện vật” để khách du lịch quan sát. Họ là chủ thể của di sản. Bởi vậy, không nên biến Hoài Khao thành một sân khấu mà người dân phải trình diễn cuộc sống của mình theo lịch của khách.

Không phải nghi lễ nào cũng nên trình diễn; không phải không gian thiêng nào cũng cần mở cửa; không phải tri thức nào cũng cần thương mại hóa. Người dân cần được tham gia quyết định cái gì có thể giới thiệu với khách và cái gì cần được giữ trong đời sống riêng của cộng đồng.

Du lịch đem lại trải nghiệm cho khách, nhưng việc gìn giữ văn hóa trước hết phải xuất phát từ nhu cầu lâu dài của chính người dân. Đó là điểm cốt lõi nếu Hoài Khao phát triển theo hướng một “bảo tàng sống”.

35 Gia đình - những người đang giữ di sản

Hoài Khao hiện có 35 hộ Dao Tiền. Quy mô nhỏ cũng là một thuận lợi để bắt đầu từ những việc cụ thể. Trước khi nghĩ đến xây thêm công trình, có một việc nên làm sớm: ghi lại Hoài Khao đang có gì và ai đang nắm giữ những giá trị ấy. Có thể xây dựng một “Hồ sơ ký ức Hoài Khao”.

Không chỉ kiểm kê nhà truyền thống, trang phục hay hiện vật, mà cần tìm hiểu ai còn nhớ những bài hát cũ; ai biết tạo hoa văn bằng sáp ong, chạm bạc, đan lát; ai hiểu cây thuốc; gia đình nào còn giữ sách cổ, ảnh cũ, đồ nghề; ai nhớ những câu chuyện về địa danh, nguồn gốc của bản và những người đi trước.

Người cao tuổi cần được phỏng vấn khi họ còn có thể kể. Tiếng nói, dân ca được ghi âm; quy trình làm nghề được ghi hình; sách cổ, ảnh và hiện vật có giá trị được số hóa phù hợp. Những khu rừng, vách đá có ong làm tổ, địa danh và không gian gắn với ký ức của bản cũng cần được ghi nhận.

Sau đó mới là câu chuyện trao truyền. Người biết nghề cần có người học. Những bài hát cần có người trẻ tiếp tục hát. Những câu chuyện chỉ còn sống khi có người muốn nghe và kể lại.

Các nhóm văn nghệ, in sáp ong, chạm bạc, đan lát, dược liệu, ẩm thực, hướng dẫn khách đã hình thành chính là những hạt nhân để tiếp tục phát triển.

Không phải cả 35 gia đình đều phải làm homestay, bán hàng hay biểu diễn. Một gia đình tiếp tục giữ nếp nhà, tiếng nói, nghề truyền thống và cuộc sống bình thường của mình cũng đang góp phần giữ không gian văn hóa của bản.

Để người giữ di sản sống được cùng di sản

Du lịch rồi sẽ làm Hoài Khao thay đổi. Đường sá thuận lợi hơn, nhà cửa tiện nghi hơn, dịch vụ tốt hơn, khách đến nhiều hơn là những điều người dân có quyền mong muốn. Vấn đề là sau những thay đổi ấy, những gì làm nên Hoài Khao hôm nay còn được giữ lại.

Phát triển không có nghĩa làm Hoài Khao giống những điểm du lịch khác. Cảnh quan cần được giữ khi hạ tầng được đầu tư. Kiến trúc bản địa cần được tôn trọng khi nhà ở được cải thiện. Việc đón khách cũng phải phù hợp với sức chứa của một cộng đồng chỉ có vài chục hộ.

Và bên cạnh số lượt khách, còn một điều rất thực tế: người đang giữ văn hóa nhận được gì từ giá trị mà di sản tạo ra?

Điều quan trọng không chỉ là hôm nay Hoài Khao còn gì, mà những giá trị nào sẽ được thế hệ sau tiếp tục gìn giữ.

Người phụ nữ dành nhiều ngày làm một sản phẩm thủ công có bán được với giá xứng đáng? Người biết nghề có người học theo và được trả công khi truyền dạy? Gia đình giữ một ngôi nhà truyền thống có đủ điều kiện sửa chữa, bảo dưỡng? Người cùng cộng đồng giữ rừng, giữ cảnh quan được hưởng lợi như thế nào khi chính những giá trị ấy thu hút khách đến Hoài Khao? Đặc biệt là người trẻ.

Báo Nhân Dân từng ghi nhận một bộ váy áo in sáp ong của phụ nữ Dao Tiền có thể mất ít nhất khoảng một tháng để hoàn thiện, trong khi giá thành cao khiến việc mở rộng thị trường không dễ dàng. Đó là một bài toán rất thật: giữ nghề nhưng nghề cũng phải giúp người làm ra nó có cuộc sống tốt hơn.

Muốn người trẻ tiếp tục giữ nghề, nghề phải có giá trị trong cuộc sống của họ. Một phần giá trị từ du lịch vì thế cần trở lại cộng đồng thông qua thu nhập của người làm nghề, người truyền nghề, giá trị cao hơn của sản phẩm thủ công, việc bảo dưỡng nhà truyền thống, bảo vệ rừng, cảnh quan và những cơ hội làm ăn mới cho người trẻ.

Khi người dân có thể sống tốt hơn từ những giá trị mình đang gìn giữ, bảo tồn sẽ không còn là một việc làm thêm bên cạnh cuộc sống của họ.

Hai mươi năm nữa, điều đáng hỏi không chỉ là Hoài Khao đón được bao nhiêu khách. Những đứa trẻ nơi đây có còn nói tiếng của dân tộc mình, biết câu chuyện về chiếc khăn trắng, nhận ra Long khuyển trên trang phục, hiểu vì sao thế hệ trước giữ rừng, biết làm hoặc ít nhất hiểu giá trị của nghề tạo hoa văn bằng sáp ong? Các em có thể tìm thấy một công việc và một tương lai trên chính quê hương mình? Đó mới là những câu hỏi quyết định tương lai của một “bảo tàng sống”.

Bởi sau cùng, điều cần giữ không chỉ là một tấm áo, một ngôi nhà hay một nghi lễ. Quan trọng hơn là còn người hiểu vì sao thế hệ trước để lại những điều ấy và muốn trao chúng cho người đến sau.

Minh Tâm

Nguồn: Báo Cao Bằng - baocaobang.vn - Đăng ngày 17/8/2026

Cùng chuyên mục

TIN NỔI BẬT