Chung tay giữ hồn di sản xứ Lạng
Theo Quyết định số 302/QĐ-UBND ngày 5/2/2025 của UBND tỉnh Lạng Sơn về phê duyệt danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn tỉnh, hiện toàn tỉnh có 420 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh. Trong đó có 145 di tích đã được xếp hạng các cấp, gồm 2 di tích quốc gia đặc biệt, 32 di tích quốc gia và 111 di tích cấp tỉnh; còn lại 275 di tích chưa xếp hạng. Về loại hình có 158 di tích lịch sử, 183 di tích kiến trúc nghệ thuật, 48 di tích khảo cổ và 31 danh lam thắng cảnh.
Các di tích lịch sử, tâm linh tại Lạng Sơn hiện không chỉ là điểm tham quan mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng gắn bó mật thiết với đời sống người dân địa phương. Nhiều lễ hội truyền thống như lễ hội Kỳ Cùng - Tả Phủ, lễ hội đền Bắc Lệ, lễ hội chùa Tam Thanh hay các nghi lễ tín ngưỡng dân gian tại các đình, đền cổ vẫn được người dân duy trì qua nhiều thế hệ.
Khối lượng di tích lớn cùng thời gian tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm khiến công tác bảo tồn tại Lạng Sơn đứng trước nhiều áp lực. Nhiều công trình đang xuống cấp bởi tác động của thời tiết, môi trường và quá trình sử dụng lâu dài. Không ít di tích xuất hiện tình trạng hư hỏng nhưng chưa thể kịp thời sửa chữa do hạn chế về nguồn lực đầu tư.

Năm 2026, ước tính có khoảng 1,5 triệu du khách tham gia lễ hội đền Kỳ Cùng - Tả Phủ (tỉnh Lạng Sơn).
Mỗi năm, hàng triệu lượt du khách đến với Lạng Sơn, trong đó phần lớn tập trung vào các điểm du lịch tâm linh, lễ hội và di tích lịch sử. Riêng trong năm 2025, tỉnh Lạng Sơn đón trên 4,3 triệu lượt khách du lịch, doanh thu du lịch đạt hàng nghìn tỷ đồng. Trong đó, hệ thống di tích, lễ hội truyền thống tiếp tục là một trong những yếu tố quan trọng thu hút du khách và giữ chân người dân địa phương với các giá trị văn hóa truyền thống.
Không chỉ tìm đến các di tích để tham quan, nhiều người dân xem đây là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, nguồn cội văn hóa và đời sống tinh thần của cộng đồng. Với nhiều gia đình tại xứ Lạng, đình, đền hay các khu di tích không đơn thuần là công trình kiến trúc mà còn là nơi gắn với truyền thống thờ cúng tổ tiên, giáo dục con cháu về lịch sử quê hương.
Từ thực tế đó, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh đã chủ động huy động nguồn lực xã hội hóa để kịp thời bảo tồn, tôn tạo các công trình có giá trị lịch sử và văn hóa.
Một trong những công trình tiêu biểu là đền Vua Lê tại phường Tam Thanh. Sau thời gian dài xuống cấp, ngôi đền đã được tu bổ bằng nguồn xã hội hóa với tổng kinh phí khoảng 3 tỷ đồng. Các hạng mục như tiền tế, hậu cung, sân đền được chỉnh trang, tạo diện mạo khang trang hơn cho di tích.
Không chỉ riêng đền Vua Lê, hoạt động xã hội hóa trong bảo tồn di tích hiện đang được triển khai tại nhiều địa phương khác trên địa bàn tỉnh. Tại phường Đông Kinh, địa phương đang tiếp tục vận động nguồn lực để tu bổ một số công trình tâm linh, di tích lịch sử xuống cấp nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân.

Di tích đền Vua Lê được tôn tạo từ nguồn xã hội hóa
Theo thống kê của ngành văn hóa, từ năm 2021 đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư tôn tạo 39 di tích với tổng kinh phí trên 183 tỷ đồng. Trong đó, nguồn lực xã hội hóa đạt trên 111 tỷ đồng. Đây được xem là nguồn lực quan trọng góp phần giảm áp lực cho ngân sách Nhà nước trong công tác bảo tồn di sản.
Không chỉ đóng góp kinh phí, nhiều người dân còn trực tiếp tham gia dọn dẹp vệ sinh, chăm sóc cảnh quan và bảo vệ khuôn viên di tích. Tại nhiều khu dân cư, việc giữ gìn đình, đền, chùa đã trở thành hoạt động chung của cộng đồng, thể hiện trách nhiệm gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống ngay từ cơ sở.
Ông Hoàng Văn Dũng, người dân phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn cho biết, khi địa phương phát động xã hội hóa, nhiều hộ dân đã chủ động tham gia đóng góp để bảo vệ cảnh quan và gìn giữ các công trình tâm linh.
“Người dân ai cũng mong muốn di tích của quê hương được giữ gìn sạch đẹp, khang trang. Có người góp tiền, người góp công để dọn dẹp khuôn viên, sửa đường vào di tích hay hỗ trợ các hoạt động lễ hội”, ông Dũng chia sẻ.
Tuy nhiên, cùng với những hiệu quả tích cực, công tác xã hội hóa trong bảo tồn di tích cũng đặt ra yêu cầu lớn về quản lý chuyên môn. Nếu quá trình tu bổ không được giám sát chặt chẽ rất dễ dẫn đến tình trạng làm mới, thay đổi kiến trúc hoặc sử dụng vật liệu hiện đại không phù hợp với yếu tố nguyên gốc của công trình.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Hoàng Văn Páo cho rằng, nhiều di tích cổ không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc mà còn gắn với ký ức lịch sử, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng của người dân địa phương. Vì vậy, việc tu bổ cần được thực hiện đúng nguyên tắc bảo tồn.
“Di tích không chỉ là nơi để tham quan mà còn là nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa, lịch sử của cộng đồng dân cư địa phương. Nếu tu bổ tùy tiện, thay đổi kết cấu hoặc sử dụng vật liệu hiện đại không phù hợp sẽ làm mất đi giá trị nguyên bản của công trình”, ông Páo nhận định.

Đền Vua Lê sau tôn tạo, đảm bảo giá trị lịch sử văn hóa.
Theo ông Páo, xã hội hóa là hướng đi phù hợp trong bối cảnh số lượng di tích lớn nhưng nguồn vốn đầu tư công còn hạn chế. Tuy nhiên, việc huy động nguồn lực xã hội hóa cần đặt dưới sự quản lý và giám sát chặt chẽ của cơ quan chuyên môn để bảo đảm công trình được tu bổ đúng quy chuẩn bảo tồn.
Ông Lưu Bá Mạc, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn, để công tác xã hội hóa trong tu bổ, tôn tạo di tích phát huy hiệu quả, ngành văn hóa đang tăng cường hướng dẫn chuyên môn, thẩm định hồ sơ và kiểm tra quá trình thực hiện tại các địa phương.
“Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia đóng góp nguồn lực, ngành văn hóa đặc biệt chú trọng công tác quản lý Nhà nước nhằm bảo đảm các công trình được tu bổ đúng quy định, giữ gìn yếu tố gốc và giá trị lịch sử của di tích”, ông Mạc cho biết.
Trong định hướng lâu dài, Lạng Sơn đang hướng tới mục tiêu bảo tồn di tích gắn với phát triển du lịch văn hóa, du lịch trải nghiệm và giáo dục truyền thống. Khi các công trình lịch sử được gìn giữ đúng giá trị nguyên bản, đây không chỉ là nơi lưu giữ ký ức của vùng đất xứ Lạng mà còn trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, quảng bá bản sắc văn hóa và gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc cho các thế hệ sau.
Nghĩa Hiệp









